DANH NHAN

DANH NHÂN    TRỊ BỊNH    ĐỒNG HỒ    DU KY    MUSIC    BAN VE KT    ABOUT    KIENTRUC    THƠ & TẾU    HOA LAN
DHKT3    WORLD TIME    WORLD CLOCK    TU DIEN    GAMES    SINH HOAT KT    SINH HOAT TORONTO
QUÊ HƯƠNG    MÙI VỊ QUÊ TA    ALBUM VIỆT    QUỐC KỲ    MẸ VIỆT    THƠ T̀NH    TẾT VIỆT    THƠ HAY
TIỂU ĐƯỜNG    WORLD-TIME & CAL    ĐẤT VIỆT    VĂN HÓA VIỆT    TRUYỆN CƯỜI    ALL LINKS VIETNAM

AnhKTS, AnhHungVoDanh, BanXua61, Berlin92, BienHoa99, Tho&Teu, DHKT2, DRIVERS, KtAustralia,
KTScacKhoa, CacKTS, KtParis, KtToronto, KyYeu, Thanh, Can, Nguu, Banh, OngDo,
QueHuong, MuiViQueTa, AlbumViet, Sau33Nam, SearchJOBS, SHOPPING, EmailKTS, Chicago,
Sydney, ThayNhac, SaRet, Toronto, Vietnam, Music, Houston, QuocKy, TienViet, Lispfile, MeViet

Alexandre Gustave Eiffel
     Ngày 10-10-1889, khi tới thăm Tháp Eiffel, nhà phát minh trứ danh người Mỹ Thomas Edison đă viết vào sổ vàng lưu niệm ở đây những lời lẽ trân trọng đến mức tưởng như không c̣n ǵ đáng trân trọng hơn: *
     Xin gửi tới Ngài Eiffel, * Công Tŕnh Sư dũng cảm đă xây dựng nên mô h́nh khổng lồ và kỳ diệu của công nghệ hiện đại, ḷng kính trọng và sự ngưỡng mộ cao nhất của tôi dành cho tất cả các kỹ sư (đă tham gia xây dựng Tháp), bao gồm Ngài Kỹ Sư Vĩ Đại.* Kư tên: Thomas Edison.**

     Sự trân trọng tột cùng đó hoàn toàn xứng đáng với một con người không chỉ tạo ra một Tháp Eiffel huyền thoại, mà c̣n là đồng tác giả của Tượng Nữ Thần Tự Do bất hủ ở Mỹ, và là tác giả của hàng chục công tŕnh sắt thép khổng lồ nổi tiếng khác trên khắp thế giới. Tháp Eiffel là 1 kết hợp toàn hảo giữa tài năng của 1 kỹ sư và của 1 nhà mỹ thuật, và chỉ cần có 2 năm để hoàn thành!! 

     Alexandre Gustave Eiffel sinh ngày 15-12-1832 tại Dijon, Pháp. Là một người đa tài, làm nhiều việc, giỏi nhiều nghề, nhưng ông nổi danh với tư cách một kỹ sư tài ba về kết cấu thép và nền móng. Tuy nghề nghiệp luôn đ̣i hỏi những tính toán chính xác đến mức khắt khe, bản tính ông lại rất lăng mạn, thích tự do phóng khoáng, không chấp nhận sự g̣ bó áp đặt, thích sống theo hứng thú của bản thân, ngưỡng mộ văn chương cổ điển, ngốn ngấu đọc Voltaire, Zola, Hugo, và nhiều tác giả khác. *
     Với bản tính đó, Eiffel là người sống đầy nhiệt huyết, hăng say hoạt động trên nhiều lĩnh vực: Vừa là một công tŕnh sư bậc thầy, vừa là một nhà doanh nghiệp lớn, vừa là một nhà nghiên cứu khoa học: Ngoài những công tŕnh bằng xương bằng thịt mà ai cũng thấy, ông đă để lại cho đời 31 cuốn sách và rất nhiều bài khảo cứu về kết cấu công tŕnh và kết cấu nền móng.  Ông được coi là vua – nhà tiên phong – trong lĩnh vực kết cấu thép. Nhiều phương pháp xử lư kết cấu của ông đến nay vẫn được áp dụng và đă trở thành kinh điển. 
     Làm việc phi thường nhưng Eiffel được ông Trời ban cho một sức khoẻ hiếm có: Ngoài 80 tuổi vẫn bơi khoẻ, đấu kiếm tốt, măi đến năm 1923 mới mất, thọ 91 tuổi.  Hiếm có một danh nhân, một nhân vật nào đạt tới vinh quang tột đỉnh lại có tuổi thọ cao đến thế! Ông được người đời kính trọng và yêu mến, phần thưởng danh dự do các chính phủ trên thế giới trao tặng cho ông nhiều đến mức không đếm xuể. 
     Tính cách năng động, tháo vát, thông minh, nhanh nhạy của Eiffel không làm ta ngạc nhiên nếu ta biết rơ nguồn gốc xuất thân của ông: Ông nội của Eiffel từng dựng nên một doanh nghiệp sản xuất thảm rất giàu có tại Pháp, đem lại một đời sống tiện nghi cho nhiều thế hệ trong ḍng họ Eiffel. 
     Cha của Eiffel tham gia quân đội Napoléon Bonaparte từ năm 16 tuổi. Mẹ của Eiffel là một phụ nữ rất thông minh tháo vát.  Bà có một cái đầu sắc sảo trong buôn bán.  Bà không những lo lắng chăm sóc cậu con trai trong việc học hành lúc nhỏ, mà c̣n tạo dựng nên hai doanh nghiệp lớn, một về cung ứng than và một về cung ứng hàng hoá đường biển, cả hai đều làm ăn phát đạt.  Sau này chính bà đă giúp Eiffel tạo dựng nên một doanh nghiệp riêng.  Hai mẹ con gắn bó yêu thương nhau suốt đời. 
      Năm 1862, tṛn 30 tuổi, Eiffel thành hôn với cô Marie Guadelet, cháu của Edouard Régneau, một nhà ủ rượu bia nổi tiếng. Hai vợ chồng sống với nhau được 15 năm hạnh phúc, sinh được 5 người con, trước khi Marie mắc chứng viêm phổi rồi mất năm 1887.  Đau đớn v́ sự ra đi của vợ, Eiffel sống độc thân trong 36 năm c̣n lại, không hề đi bước nữa. 
     Trong thời trẻ, Eiffel chiụ ảnh hưởng nhiều nhất bởi hai người: Một là ông chú Jean-Baptiste Mollerat, một nhà hoá học thành đạt, người đă phát minh ra quy tŕnh chưng cất giấm từ thùng gỗ; Hai là Michel Perret, một nhà hoá học khác trong vùng.  Cả hai nhà hoá học này dành rất nhiều thời gian chuyện tṛ với Eiffel, nhồi nhét vào đầu cậu bé hàng đống tư tưởng, từ chuyện hoá học, khai thác hầm mỏ cho tới chuyện tôn giáo và triết học. 
     Ông chú Mollerat không chỉ là một người đàn ông đáng kính về khoa học, mà c̣n là một người có tư tưởng cộng hoà mạnh mẽ.  Có lần ông nói với Eiffel: "Này con trai, cháu hăy nhớ rằng tất cả bọn vua chúa đều là đồ xấu xa!". Câu nói này có thể gây tổn thương đối với cha mẹ Eiffel, bởi dẫu sao cha Eiffel cũng đă từng phục vụ dưới triều đại Napoléon – vị hoàng đế lừng danh thế giới.  Tuy nhiên, tư tưởng của ông chú đă dần dần ảnh hưởng đến Eiffel, biến Eiffel thành một người có thiên hướng cộng hoà. Thiên hướng này đă có dịp biểu lộ rơ rệt khi cậu bé trưởng thành: Eiffel trở thành một đồng tác giả không thể thiếu của Tượng Nữ Thần Tự Do. 
     Thủa cắp sách tới trường, Eiffel là một cậu bé đặc biệt thông minh và ṭ ṃ, nhưng không chuyên cần lắm. Tại trường Lycée Royal (Trung Học Hoàng Gia), cậu cảm thấy các môn học ở đó nói chung nhàm chán, buồn tẻ, không khí nhà trường tù hăm, đến lớp chỉ phí thời gian.  Măi đến hai năm cuối phổ thông Eiffel mới t́m thấy sở thích của ḿnh, nhưng không phải trong các môn kỹ thuật hoặc công nghệ, mà là lịch sử và văn chương! Từ đó Eiffel mới thật sự thích học, kết quả học tập của cậu được cải thiện rơ rệt và cuối cùng Eiffel đă tốt nghiệp trung học xuất sắc trong cả các môn nhân văn lẫn khoa học. 
     Sau khi tốt nghiệp trung học Eiffel lên Paris, theo học tại Collège Sainte Barbé để luyện thi vào École Polytechnique – trường Đại Học Bách Khoa nổi tiếng thế giới.  Nhưng chàng sinh viên bản tính lăng mạn không thể ḱm nén được t́nh yêu say đắm đối với Paris hoa lệ.  Anh dành hầu hết th́ giờ rỗi để bơi lội trên Sông Seine, thăm Bảo Tàng Louvre, đi xem kịch tại Nhà Hát Opera. Kết quả là anh không chuẩn bị đủ kiến thức cho kỳ thi vào Đại Học Bách Khoa. Anh thi trượt, nhưng không hề lăng phí th́ giờ vào việc buồn nản, mà lại thi ngay vào École Centrale des Arts et Manufactures, một dạng trường bách khoa khác, có xu hướng tự do cởi mở hơn, và được đánh giá là một trong những trường đào tạo kỹ thuật và công nghệ hàng đầu Châu Âu thời bấy giờ. 
     Đến lúc đó Eiffel vẫn tuyên bố hoá học là mục tiêu chủ yếu của đời ông. Ông chú Mollerat cũng hứa sẽ dành cho nhà hoá học tương lai một chỗ làm tại những trung tâm sản xuất giấm của ông ở Dijon. Tuy nhiên, năm 1855, gần đến lúc Eiffel lĩnh bằng tốt nghiệp th́ xẩy ra chuyện xích mích giữa cha mẹ Eiffel với ông chú.  Hai bên nặng mặt với nhau, hậu quả là lời hứa của ông chú về chỗ làm dành cho Eiffel cũng bị huỷ bỏ, Eiffel phải t́m một định hướng mới cho tương lai. 
     Người thông minh làm ǵ cũng thông minh:  Quả là "trong cái rủi có cái may", việc thất hứa của ông chú lại dẫn Eiffel tới một bước ngoặt: Thay v́ trở thành nhà hoá học, ông lại kiếm được một chân quản lư dự án xây dựng cầu đường sắt trong công ty kỹ thuật của Charles Nepveu thuộc Hội Kỹ Thuật Dân Sự Pháp.  Chẳng bao lâu sau, công ty Nepveu vỡ nợ, một công ty của Bỉ mua lại công ty này, sự nghiệp của Eiffel tưởng chừng gặp cơn bĩ cực nhưng hoá ra lại đến ngày thái lai: Ông chủ mới thuê luôn Eiffel làm việc với tư cách trưởng nhóm nghiên cứu kỹ thuật của công ty. 
Tại Việt Nam những năm 1950-1960, một chuyên gia nổi tiếng về kết cấu và nền móng là kỹ sư Phạm Đ́nh Biều thường tâm sự với học tṛ của ông rằng chuyện "cải nghiệp" của Eiffel dạy chúng ta 2 bài học:  Một, người thông minh làm ǵ cũng thông minh.  Hai, người trí thức chân chính và thực sự có tài phải là người có khả năng tự học, tự nghiên cứu.  Một nền giáo dục tốt không phải là nền giáo dục chỉ lo nhồi nhét kiến thức hàn lâm cho học tṛ, mà quan trọng nhất là phải biết gợi mở để học tṛ say mê môn học, từ đó họ có thể tự học, tự nghiên cứu.  Một nhà sư phạm không hiểu điều này sẽ không bao giờ hiểu được tại sao một người được đào tạo thuần tuư về hoá học như Eiffel lại có thể trở thành một kỹ sư kết cấu bậc thầy, không cần qua một trường đào tạo chuyên môn về xây dựng và kết cấu nào cả.     

      Niềm say mê tự học có giá trị gấp hàng trăm lần so với lối học khoa cử chỉ cốt giành giật bằng cấp và danh vọng.
     Trở lại Eiffel, năm 1858, ông đă tạo nên một "cú" đột phá đầu tiên trong đời:  Ông được giao trách nhiệm xây dựng một chiếc cầu bằng thép vượt qua sông Garonne gần thành phố Bordeaux, dài khoảng 500m, và chỉ sau 2 năm công tŕnh đă được hoàn thành mỹ măn, gây một tiếng vang lớn trong giới chuyên môn cầu cống! Chính trong dịp này Eiffel đă có một phát minh kỹ thuật nổi tiếng – sáng tạo nên Hệ Nén Thuỷ Lực (một hệ thống máy vận hành nhờ nước, hơi nước và khí nén) – cho phép đóng các vật liệu làm nền móng sâu xuống ḷng đất tới 25m.  Nhờ đó, không những công tŕnh được khánh thành đúng thời hạn mà c̣n làm cho Eiffel nổi danh như một nhà phát minh và một kỹ sư tài ba.    

     Năm 1864, lúc này đă có vợ và cư trú tại Paris, với sự giúp đỡ của bà mẹ, Eiffel cho ra đời công ty riêng của ḿnh. Trong 20 năm tiếp theo Eiffel đă phát triển và hoàn thiện hàng loạt phương pháp kỹ thuật mới và áp dụng ngay những phương pháp đó vào trong những công tŕnh của ḿnh.  Chẳng hạn, trong khi thiết kế gian đầu tiên cho Palais des Machines (Gian trưng bầy máy móc) của Triển Lăm Quốc Tế Paris năm 1878, Eiffel đă tạo ra những hệ v́ kèo và ṿm mái thép cứng hơn nhưng lại nhẹ hơn.  Cấu trúc mới này có h́nh dạng như những mạng lưới vừa rất đẹp mắt vừa có sức chịu đựng rất lớn, bất chấp gió băo. 
     Một trong những dự án lớn của Công Ty Eiffel là xây dựng chiếc cầu Sioule, cao 80m so với mặt sông Sioule, đạt kỷ lục một trong những chiếc cầu cao nhất thời bấy giờ.  Dự án này cho phép Eiffel thử nghiệm ba sáng kiến mà sau này ông đă áp dụng vào việc xây dựng Tháp Eiffel: Sử dụng loại thép có chạm trổ thay cho loại thép nặng, gịn, dễ vỡ thường vẫn được sử dụng thời đó. Ông khám phá ra rằng thép chạm trổ cứng hơn, dẻo dai hơn, chịu đựng được những cơn gió mạnh tốt hơn.  Ông cho uốn cong bờ mép của những chân cột móng mà trước đó thường là h́nh vuông hoặc h́nh chữ nhật, do đó móng được ổn định hơn và bền hơn.  Ông phát triển một hệ thống được gọi là "launching" trông như một cái cưa khổng lồ, trong đó sử dụng những bộ phận cân bằng cho phép dịch chuyển các cấu kiện riêng lẻ một cách dễ dàng hơn vào đúng vị trí cần thiết trong công tŕnh. 
Cứ như thế, danh tiếng của Eiffel càng ngày càng tăng lên theo danh mục các dự án của ông: Những chiếc cầu lắp ghép làm sẵn cho quân đội hành quân, Cửa hàng Bon Marché nổi tiếng ở Paris, giàn khung Nhà Thờ Đức Bà Paris, và khung thép Tượng Nữ Thần tự Do – công tŕnh tuyệt tác trước khi ra đời Tháp Eiffel huyền thoại của ông. 

     Tượng Nữ Thần tự Do: Tượng Nữ Thần Tự Do với tên đầy đủ là Tự Do Soi Sáng Thế Giới (La liberté éclairant le monde/Liberty Enlightening the World), là một món quà đặc biệt của nước Pháp dành tặng nước Mỹ nhân dịp kỷ niệm tṛn 100 năm ngày nước Mỹ tuyên bố độc lập (thoát khỏi ách thống trị của đế quốc Anh). 
     Cách Mạng Pháp 1789 là ngọn cờ thúc đẩy tư tưởng tự do, b́nh đẳng, bác ái lan rộng ở Pháp rồi ra toàn thế giới trong suốt những năm tháng tiếp theo. Một trong những người Pháp đi tiên phong trong trào lưu này là Édouard René Lefèvre de Laboulaye, một nhà chính trị kiêm nhà văn chuyên viết về lịch sử Mỹ.  Chính ông là người đề xuất ư tưởng tặng nước Mỹ một món quà để ca ngợi nền tự do.      Ư tưởng của ông lập tức được chính phủ Pháp ủng hộ, và việc thiết kế mỹ thuật được giao cho nhà tạc tượng trứ danh Frédéric-Auguste Bartholdi. 
Bartholdi đă thiết kế nên h́nh ảnh một phụ nữ khoẻ mạnh có nét đẹp kinh điển như những bức tượng Hy Lạp cổ đại với kích thước khổng lồ ở tư thế đứng thẳng, đầu đội vương miện với 7 tia hào quang toả ra tượng trưng cho 7 biển và lục địa trên trái đất, tay trái mang một phiến đá ghi ḍng chữ "JULY IV MDCCLXXVI", tức là "Tháng Bẩy, Ngày 4 Năm 1776" (ngày độc lập của Mỹ), tay phải giương cao bó đuốc của tự do, thân mặc tấm áo choàng phủ kín tới chân.*
     Nhưng ngay lập tức Bartholdi phải đối mặt với 2 bài toán nan giải:  • Làm thế nào để bức tượng khổng lồ có thể tháo rời ra từng bộ phận để chuyên chở sang Mỹ?  • Bức tượng sẽ được dựng trên Đảo Tự Do trong Cảng New York, vậy phải làm thế nào để nó chịu đựng được gió băo rất mạnh ngoài biển Đại Tây Dương?  Người thích hợp nhất có thể giúp Bartholdi giải 2 bài toán hóc búa đó không thể là ai khác Gustave Eiffel! 
     Vào thời điểm này, tên tuổi Eiffel đă được nhiều người biết đến như một công tŕnh sư tài ba từng xây dựng nên những công tŕnh khổng lồ có kết cấu phức tạp và chắc chắn, v́ thế ông được mời giúp Bartholdi xây dựng Tượng Nữ Thần tự Do.  Ngay lập tức Eiffel hưởng ứng và bắt tay vào việc. 
     Trước hết, bài toán thứ nhất được giải bằng cách "cắt rời thân thể" Nữ Thần Tự Do ra làm 350 mảnh rồi chất lên chiếc thuyền buồm mang tên Isère để chở sang Mỹ.  Tới Mỹ, nó được đưa lên một ḥn đảo có tên là Đảo Tự Do (Liberty Island) ở cửa sông Hudson nh́n ra cảng New York (New York Harbour). 
     Để giải bài toán thứ hai, Eiffel xây dựng một hệ thống cốt sắt làm cốt lơi bên trong để lắp ghép 350 mảnh đồng, tạo nên một bức tượng cao 46m, nặng tổng cộng 204 tấn, đứng trên một bệ cao 45,7m (bệ do người Mỹ xây dựng). Riêng cánh tay giơ bó đuốc đă dài tới 12m, ngón trỏ dài 2,4m, cái đầu tính từ cằm tới vuơng miện cao 5m, riêng cái miệng rộng 1m.  Ngày nay du khách tới thăm bức tượng sẽ phải leo 354 bậc thang để lên tới vương miện. Bản thân vương miện là một "gian pḥng" rộng với 25 cửa sổ, trông từ xa như 25 viên đá quư cài trên vương miện. Tổng cộng bức tượng bao gồm 31 tấn đồng và 125 tấn thép.  Các tấm đồng làm bề mặt bức tượng có chiều dày 2,37 mm, được ghép với nhau sao cho cách ly với khung thép bằng những tấm cách điện để tránh hiệu ứng pin kim loại làm rỉ chỗ ghép do hơi nước biển gây nên. 
     Mặc dù được hai tài năng xuất chúng là Bartholdi và Eiffel phối hợp thực hiện, dự án này vẫn không thể nào hoàn thành kịp thời hạn kỷ niệm 100 năm nước Mỹ độc lập (1876), mà phải đợi tới mười năm sau, tức 1886, Tượng Nữ Thần Tự Do mới được tổng thống Mỹ Groover Cleveland chính thức cắt băng khánh thành. 
     Trong bài báo "Gustave Eiffel: The Man Behind The Masterpiece", kư giả Karen Plumley viết: "Eiffel dựng một khung thép để gắn các tấm kim loại vào đó, và đặt nhiều chùm thép thẳng đứng cắm sâu vào trong bệ đá granite của nền móng để giữ cho bức tượng khổng lồ đứng vững. Kết quả là có một bức tượng nhẹ hơn (so với tượng đặc) nhưng vẫn đảm bảo chắc chắn, có khả năng chịu đựng được một tải trọng khổng lồ và hàng loạt tác động khắc nghiệt khác.  Một lần nữa, Eiffel đă chứng minh khả năng của ông trong việc giải quyết những bài toán kỹ thuật phức tạp và khó khăn nhất, trong đó sử dụng những kỹ thuật mà trước đó không ai dám làm". 
     Bách khoa toàn thư Wikipedia cho rằng thiết kế kết cấu của Eiffel là điều kiện không thể thiếu để biến dự án Tượng Nữ Thần Tự Do khổng lồ thành hiện thực.  Kể từ 1886, kiệt tác văn hoá này nhanh chóng trở thành biểu tượng quốc gia của nền tự do ở Mỹ, đem lại niềm kiêu hănh cho người Mỹ, trở thành một tâm điểm thu hút khách du lịch và di dân từ khắp thế giới đến Mỹ, thúc đẩy nền kinh tế ở đây phát triển mạnh mẽ chưa từng có [Một số người Mỹ sống ở Pháp rất hài ḷng với món quà mà người Pháp đă dành tặng cho đất nước họ, v́ thế họ trả ơn người Pháp bằng cách xây dựng một phiên bản Tượng Nữ Thần Tự Do ở Pháp.  Phiên bản này cũng bằng đồng, cao 11m (khoảng ¼ bức tượng ở New York) đă được dựng lên tại ḥn đảo Thiên Nga cách Tháp Eiffel khoảng 2km về phía bắc.  
      Tại Việt Nam những năm đầu thế kỷ 20, cũng từng xuất hiện một phiên bản Tượng Nữ Thần Tự Do với kích thước nhỏ cao 2,85m, dân gian gọi là "Tượng Bà Đầm Xoè", lúc đầu được triển lăm trong Hội Chợ Đấu Xảo Hànội (Cung văn hoá hữu nghị hiện nay), sau được chuyển về Vườn Hoa Chí Linh (vườn hoa trước cửa Ngân Hàng Trung Ương hiện nay), sau đó đă được đặt trên nóc Tháp Rùa, rồi lại chuyển về Vườn Hoa Cửa Nam, cuối cùng bị giật đổ ngày 01-08-1945 dưới thời chính phủ Trần Trọng Kim, v́ bị coi là biểu tượng của nhà nước thuộc địa.
     Huyền thoại Eiffel:  
Để kỷ niệm 100 năm Cách Mạng Pháp (1789 – 1889), nhà nước Pháp quyết định tổ chức Hội Chợ Triển Lăm Quốc Tế tại Paris vào năm 1889, với một cổng chào kiểu ṿng cung khổng lồ bằng sắt thép sẽ được dựng trên Quảng Trường Tháng Ba (Champs de Mars) bên bờ sống Seine, nhằm phô trương sức mạnh công nghiệp và khoa học kỹ thuật của nước Pháp với thế giới.  
     Trong 700 đề án thiết kế dự thi, đề án của Gustave Eiffel được chấp thuận v́ nó đẹp nhất, chắc chắn nhất, rẻ nhất.  Khởi công từ giữa năm 1887, khánh thánh giữa năm 1889, Tháp Eiffel trở thành ngọn tháp cao nhất thế giới vào thời điểm đó (324m), trong đó phải huy động tới 300 công nhân lắp ghép 18038 cấu kiện sắt thép với 2 triệu rưỡi đinh rivets. 
     Lúc đầu, việc xây dựng Tháp bị công chúng phản đối dữ dội, v́ bị coi là chướng mắt, kỳ quái, phá hỏng vẻ đẹp truyền thống cổ kính của Paris hoa lệ. Một trong những người phản đối mạnh nhất là nhà văn nổi tiếng Guy de Maupassant.  Nhà văn này tuyên bố ông sẽ thường xuyên leo lên Tháp Eiffel để ăn trưa, làm mọi người sửng sốt không hiểu.  Khi được hỏi tại sao, Maupassant trả lời: "V́ đó là cách tốt nhất để không nh́n thấy cái chướng mắt do Tháp Eiffel gây ra". 
     Nhưng ngay từ những ngày đầu mở cửa cho khách vào xem, Tháp Eiffel đă thu hút nườm nượp người đến Paris. Riêng năm 1889 đă có gần 2 triệu khách đến tham quan, đạt kỷ lục về du lịch trên thế giới vào thời điểm bấy giờ. Từ đó đến nay Tháp Eiffel càng ngày càng nổi tiếng.  Tính đến 2002, tổng số khách du lịch tới thăm kể từ ngày khánh thành đă lên tới hơn 200 triệu người, mang lại cho nước Pháp một lợi nhuận kếch xù, vượt quá mọi dự tính lúc ban đầu. Riêng năm 2006 vừa qua, số khách tới thăm đạt mức kỷ lục: 6.719.200 người, tiếp tục giữ kỷ lục du lịch của các công tŕnh xây dựng trên thế giới. 
     Nhưng vượt lên trên nguồn lợi kinh tế, Tháp Eiffel đă trở thành biểu tượng kiêu hănh của nước Pháp nói chung và của Paris nói riêng.  Trong thế kỷ 20, rất nhiều tháp khác cao hơn Tháp Eiffel đă được dựng lên trên thế giới, nhưng không có một tháp nào có thể sánh nổi với Tháp Eiffel về vẻ đẹp và sự nổi tiếng.  Người Pháp tự hào v́ nó, người nước ngoài háo hức muốn được diện kiến nó. Người ta truyền tụng nhau: "Đến Paris mà chưa đến Tháp Eiffel th́ cũng coi như chưa đến!". Vậy mà có một kẻ muốn đánh sập Tháp Eiffel, đó là Adolf Hitler! 
     Ngày 23-08-1944, liệu chừng sẽ phải rút khỏi Paris v́ không chống đỡ nổi các mũi tấn công của đồng minh, Hitler ra lệnh cho Dietrich von Choltitz, tổng chỉ huy quân đội Đức tại Paris:"Không được để Paris rơi vào tay kẻ thù, trừ khi nó đă hoàn toàn trở thành một đống gạch vụn!".  Nhưng không hiểu sao, Choltitz không tuân lệnh chủ, rút lui khỏi Paris mà không phá huỷ.  Tại sao Choltitz hành xử như vậy? Có nhiều giải thích trái ngược.  Đây là một dấu hỏi c̣n bỏ ngỏ của lịch sử. 
Lẽ ra th́ Hitler cũng chẳng có dịp diện kiến Tháp Eiffel, v́ theo kế hoạch ban đầu, Tháp chỉ được phép tồn tại trong 20 năm, nghĩa là đến 1909 sẽ phải tháo dỡ.
    Thực ra Eiffel đă thiết kế sao cho Tháp có thể dễ dàng tháo dỡ ngay sau khi Hội Chợ Triển Lăm 1889 kết thúc.  Nhưng như chúng ta đă thấy: Nó không bị tháo dỡ và đă tồn tại cho đến ngày nay! Tại sao vậy? Đơn giản v́ nó đă trở thành niềm kiêu hănh của nước Pháp, đem lại uy tín khoa học kỹ thuật và ích lợi kinh tế cho nước Pháp vượt quá sự mong đợi. 
     Ngày nay người ta không thể h́nh dung một Paris không có Tháp Eiffel.  Trái ngược với giới văn nghệ sĩ cuối thế kỷ 19, các nhà văn, nhà thơ, hoạ sĩ ngày nay đă lấy Tháp Eiffel làm nguồn cảm hứng để sáng tác.  Tháp Eiffel đă trở thành một huyền thoại! Gần đây, nó đă cùng với Tượng Nữ Thần Tự Do lọt vào danh sách 20 công tŕnh cuối cùng được đề cử trong cuộc b́nh chọn 7 kỳ quan mới của thế giới do tổ chức phi lợi nhuận NOWC (New Open World Corporation) tổ chức (kết quả b́nh chọn cuối cùng đă được công bố ngày 07-07-2007 tại Lisbon, Bồ Đào Nha).

     Trong 30 năm cuối đời, Eiffel sống và làm việc trong cái tháp mang tên ông theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.  Ông đă t́m cách tận dụng chiếc Tháp vào những mục đích mang lại lợi ích thiết thực: Ông xây dựng trạm quan sát thiên văn, pḥng thí nghiệm thủy động lực học và pḥng nghiên cứu thông tin liên lạc ngay trên các tầng của Tháp. Ông đắm ḿnh trong những pḥng nghiên cứu đó, cống hiến hết sức ḿnh cho những nghiên cứu mới lạ cho đến hơi thở cuối cùng.  Cũng chính trong những năm tháng này, ông đă thiết kế Cầu Long Biên Hànội, Cầu Tràng Tiền Huế, và Nhà Bưu Điện Sàig̣n. 
     Ngày 27-12-1923, Eiffel ra đi một cách nhẹ nhàng tại nhà riêng, thọ 91 tuổi.  

B́nh Ngô đại cáo (Nguyễn Trăi)

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.
Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đă lâu.
Nước non bờ cơi đă chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác.
Từ Triệu, Đinh, Lư, Trần bao đời xây nền độc lập,
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương.
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
Song hào kiệt thời nào cũng có.
Cho nên Lưu Cung tham công nên thất bại,
Triệu Tiết chí lớn phải tiêu vong.
Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô,
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mă.
Việc xưa xem xét,
Chứng cứ c̣n ghi.

Vừa rồi:
Nhân họ Hồ chính sự phiền hà,
Để trong nước ḷng dân oán hận.
Quân cuồng Minh đă thừa cơ gây loạn,
Bọn gian tà c̣n bán nước cầu vinh.
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,
Vùi con đỏ xuống dưới gầm tai vạ.
Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế,
Gây thù kết oán trải mấy mươi năm.
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời,
Nặng thuế khoá sạch không đầm núi.
Người bị ép xuống biển c̣ng lưng ṃ ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng,
Kẻ bị đem vào núi đăi cát t́m vàng khốn nỗi rừng sâu nước độc.
Vét sản vật bắt gị chim xả chốn chốn lưới giăng,
Nhiễu nhân dân bắt bẩy hươu đen nơi nơi cạm đặt.
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng.
Thằng há miệng đứa nhe răng máu mỡ bấy no nê chưa chán,
Nay xây nhà mai đắp đất chân tay nào phục dịch cho vừa.
Nặng nề những nỗi phu phen,
Tan tác cả nghề canh cửi.
Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông hải chẳng rửa sạch mùi. Ḷng người đều căm giận
Trời đất chẵng dung tha,

Ta đây:
Núi Lam Sơn dấy nghĩa,
Chốn hoang dă nương ḿnh.
Ngẫm thù lớn há đội trời chung,
Căm giặc nước thề không cùng sống.
Đau ḷng nhức óc chốc đà mười mấy năm trời,
Nếm mật nằm gai há phải một hai sớm tối.
Quên ăn v́ giận, sách lược thao suy xét đă tinh,
Ngẫm trước đến nay lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ.
Những trằn trọc trong cơn mộng mị,
Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi.
Vừa khi cờ nghĩa dấy lên,
Chính lúc quân thù đang mạnh.

Lại ngặt v́:
Tuấn kiệt như sao buổi sớm,
Nhân tài như lá mùa thu.
Việc bôn tẩu thiếu kẻ đỡ đần,
Nơi duy ác hiếm người bàn bạc.
Tấm ḷng cứu nước vẫn đăm đăm muốn tiến về đông,
Cỗ xe cầu hiền thường chăm chắm c̣n dành phía tả. Thế mà:
Trông người, người càng vắng bóng, mịt mù như nh́n chốn bể khơi,
Tự ta, ta phải dốc ḷng, vội vă hơn cứu người chết đói.
Phần th́ giận quâ thù ngang ngược,
Phần th́ lo vận nước khó khăn.
Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần,
Lúc Khôi Huyện quân không một đội.
Trời thử ḷng trao cho mệnh lớn,
Ta gắng chí khắc phục gian nan.
Nhân dân bốn cơi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới.
Tướng sĩ một ḷng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào.
Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh,
Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều.
Trọn hay:
Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chính nhân để thay cường bạo.
Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,
Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay.
Sĩ khí đă hăng,
Quân thanh càng mạnh.
Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía,
Lí An, Phương Chính nín thở cầu thoát thân.
Thừa thắng đuổi dài, Tây Kinh ta chiếm lại.
Tuyển binh tiến đánh, Đông Đô đất củ thu về.
Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh hôi vạn dặm,
Tỵ Động thây chất đầy đồi, nhơ để ngàn năm.
Phúc tâm quân giặc, Trần Hiệp đă phải bêu đầu,
Mọt gan kẻ thù, Lí Lượng cũng đành bỏ mạng.
Vương Thông gỡ thế nguy, mà đám lửa cháy lại càng cháy,
Mă Anh cứu trận đánh, mà quân ta hăng lại càng hăng.
Bó tay để đợi bại vong, giặc đă trí cùng lực kiệt,
Chẳng đánh mà người chịu khuất, ta đây mưu phạt tâm công.
Tưởng chúng biết lẽ ăn năn nên đă thay ḷng đổi dạ,
Ngờ đâu vẫn đương mưu tính lại c̣n chuốc tội gây oan.
Giữ ư kiến của một người, gieo vạ cho bao nhiêu kẻ khác,
Tham công danh một lúc, để cười cho tất cả thế gian.

Bởi thế:
Thằng nhăi con Tuyên Đức động binh không ngừng,
Đồ nhút nhát Thạnh, Thăng đem dầu chữa cháy.
Đinh Mùi tháng chín, Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn kéo lại,
Năm ấy tháng Mười Mộc Thạnh chia đường từ Vân Nam tiến sang.
Ta trước đă điều binh thủ hiểm, chặt mũi tiên phong.
Sau lại sai tướng chẹn đường, tuyệt nguồn lương thực.
Ngày mười tháng tám, trận Chi Lăng Liễu Thăng thất thế,
Ngày hai mươi trận Mă Yên Liễu Thăng cụt đầu.
Ngày hăm lăm bá tước Lương Minh đại bại tử vong,
Ngày hăm tám thượng thư Lí Khánh cùng kế tự vẫn.
Thuận đà ta đưa lưỡi dao tung phá,
Bí nước giặc quay mũi giáo đánh nhau.
Lại thêm quân bốn mặt vây thành,
Hẹn đến giữa tháng mười diệt giặc
Sĩ tốt kén người hùng hổ,
Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh.
Gươm mài đá, đá núi cũng ṃn,
Voi uống nước, nước sông phải cạn.
Đánh một trận sạch không ḱnh ngạc,
Đánh hai trận tan tác chim muông.
Cơn gió to trút sạch lá khô,
Tổ kiến hồng sụt toang đê vỡ.
Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội,
Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng.
Lạng Giang, Lạng Sơn thây chất đầy đường,
Xương Giang B́nh Than máu trôi đỏ nước.
Ghê gớm thay, sắc phong vân phải đổi,
Thảm đạm thay, ánh nhật nguyệt phải mờ.
Bị ta chặn ở Lê Hoa, quân Vân Nam nghi ngờ khiếp vía mà vỡ mật,
Nghe Thăng thua ở Cần Trạm, quân Mộc Thạnh xéo lên nhau chạy để thoát thân.
Suối Lănh Câu máu chảy thành sông, nước sông nghẹn ngào tiếng khóc,
Thành Đan xá thây chất thành núi, cỏ nội đầm đ́a máu đen.
Cứu binh hai đạo tan tành quay gót chẳng kịp,
Quân giặc các thành khốn đốn cởi giáp ra hàng.
Tướng giặc bị cầm tù như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng,
Thần Vũ chẳng giết hại thể ḷng trời ta mở đường hiếu sinh.
Mă Kỳ, Phương Chính cấp cho năm trăm chiếc thuyền,
ra đến bể mà vẫn hồn bay phách lạc,
Vương Thông, Mă Anh phát cho vài ngh́n cỗ ngựa,
về đến nước mà vẫn tim đập chân run.
Họ đă tham sống sợ chết, mà hoà hiếu thực ḷng,
Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức.
Chẳng những mưu kế kỳ diệu,
Cũng là chưa thấy xưa nay.

Xă tắc từ đây vững bền
Giang sơn từ đây đổi mới
Càn khôn bỉ rồi lại thái,
Nhật nguyệt hối rồi lại minh.
Ngàn năm vết nhục nhă sạch làu. Muôn thuở nền Thái b́nh vững chắc,
Âu cũng nhờ trời đất tổ tông linh thiêng đă lặng thầm phù trợ.
Than ôi! Một cỗ nhung y chiến thắng nên công oanh liệt ngàn năm,
Bốn phương biển cả thanh b́nh,  ban chiếu duy tân khắp chốn.
Xa gần bá cáo,
Ai nấy đều hay.


Hải Thượng Lăn Ông.
 
HẢI THƯỢNG LĂN ÔNG (1724 – 1791).
 
   Hải Thượng Lăn Ông tên húy là Lê Hữu Trác tên thường là Lê Hữu Chẩn, là một đại y tôn của nước ta.
Sinh ngày 12/11/1724 năm Giáp Th́n về cuối đời Hậu Lê, ở thôn Văn Xá, làng Lưu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương, (nay là thôn Thanh Xá, xă Hoàng Hữu Nam, huyện Yên Mỹ, Hải Hưng). Mất ngày rằm tháng Giêng năm Tân Hợi, niên hiệu Quang Trung thứ 4 (1791) tại xă T́nh Diễm, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
Cha là Lê Hữu Mưu đỗ tiến sĩ, làm Thượng Thư đời Lê Dụ Tôn, mẹ quê ở Bàu Thượng, làng T́nh Diễm, Hương Sơn, Hà Tĩnh.
Hồi nhỏ theo cha đi học ở Thăng Long, năm 1739 cha mất, lớn lên gặp thời loạn, vua Lê hư vị, Chúa Trịnh lộng quyền, các nơi đều nổi dậy chống đối, có phen Lăn ông cũng ra cầm quân dẹp loạn, nhưng v́ chán ghét cuộc chém giết tương tàn ấy, nên nhân có tin người anh ở Hương Sơn mất, ông bèn viện cớ về quê nuôi mẹ.
Nhân bị đau ốm, Lăn ông mới t́m đến vị Lương y Trần Độc ở núi Thành, xă Hương Cần, huyện Thanh Chương, Nghệ An để chữa bệnh. Trong thời gian ở đó hơn 2 năm, Lăn ông đă nghiên cứu các sách y học kinh điển nhất là bộ Phùng Thị Cẩm Nang  và cùng họ Trần bàn luận về y học.
Bấy giờ có Hải Quận Công biết Lăn Ông văn vơ kim toàn muốn mời ra cầm quân lần nữa, nhưng v́ chán ghét chiến tranh, không ham danh lợi Lăn Ông đă cương quyết chối từ, trở về Hương Sơn nghiên cứu y học và chữa bệnh.
Năm 1760, mẹ mất, lúc đó tuy mới 35 tuổi đă nổi tiếng là danh y, ngoài việc chữa bệnh, Hải Thượng Lăn Ông đă mở lớp dạy cho đồ đệ. Suốt hai mươi mấy năm lưu tâm nghiên cứu, đem hết tài năng và tinh thần tận tụy chữa bệnh và giảng dạy.
Hải Thượng đă lĩnh hội được nguyên lư uyên thâm của Đông y, thu lượm bao kinh nghiệm phong phú về chẩn trị, đúc kết lại thành một hệ thống kết hợp chặt chẽ lư luận với thực tiễn lâm sàng trong một tác phẩm rất lớn và rất có giá trị là bộ Y Tông Tâm Lĩnh. Ngoài ra lại c̣n viết tập”Vệ Sinh Yếu Quyết” và một bản gọi “Nữ Công Thắng Lăm”.
Năm 1782, đời Lê Hiến Tông, Niên hiệu Cảnh Hưng thứ 43, bấy giờ đă ngoài 60 tuổi Hải Thượng bị triệu về Kinh để chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán con Chúa Trịnh Sâm.
Ở triều đ́nh, bị các ngự y ganh tị gièm pha, măi sau Hải Thượng mới được phép chữa nên không có kết quả. Nhân ở kinh đô một năm ông t́m mọi cách để in bộ sách của ḿnh nhưng không thành công, lại có ư t́m lại các vị danh y tại đó để trao đổi học thuật nhưng chỉ thu lượm được một số bài thuốc kinh nghiệm hoặc gia truyền. Hải Thượng đă kể lại cuộc hành tŕnh này ở tập Thượng Kinh Kư Sự, một tài liệu văn học có giá trị phản ánh đời sống của xă hội Việt Nam hồi đó.
Lăn Ông trở về Hương Sơn tiếp tục nghiên cứu, chữa bệnh, giảng dạy và hoàn thành bộ Y Tông Tâm Lĩnh, bộ sách Đông y lớn nhất và quí nhất ở nước ta: gồm 63 cuốn (nay chỉ c̣n 55 cuốn) do Vũ Xuân Hiên thu thập lại và đem in năm 1866.
Nội dung bao gồm y lí, chẩn trị, phương dược, tŕnh bày có hệ thống, kết hợp lư luận với thực tiễn, phân tích chứng minh rơ ràng, như bàn về Thủy Hỏa th́ có cuốn Huyền Tẩn Phát Vi, bàn về khí huyết có cuốn Khôn Hóa Thái Chân, trị các bệnh ngoại cảm th́ có Ngoại Cảm Thông Trị, biện biệt tạp chứng th́ có Bách Bệnh Cơ Yếu, chẩn đoán th́ có Y Gia Quan Miện, biện luận th́ có Đạo Lưu Dư Vận, vận khí có Vận Khí Bí Điển ... cho đến các loại phụ khoa (Phụ Đạo Xán Nhiên), nhi khoa (Ấu Ấu Tu Tri) đều viết một cách tinh thông, giầu kinh nghiệm.
Tuy chịu ảnh hưởng của y học Trung Hoa nhất là Phùng Thị nhưng Lăn Ông đă có óc sáng tạo vận dụng y lí hợp với hoàn cảnh khí hậu và thể chất của người Việt Nam và đă sử dụng thuốc Nam để chữa bệnh, như ở các cuốn Lĩnh Nam Bản Thảo, Bách Gia Trân Tàng và Hành Giản Trân Nhu. Nhận định về Lĩnh Nam không có thương hàn, Lăn Ông đă lập ra nhiều phương thang mới ghi  ở cuốn Ngoại Cảm Thông Trị. Đặc biệt trong 2 cuốn Dương Án và Âm Án, ghi lại những y án và phân tích về những bệnh đă chữa khỏi hoặc không chữa được. Cuốn Châu Ngọc Cách Ngôn để lại cho chúng ta những điều căn dặn rất bổ ích về chẩn đoán trị liệu và những sai lầm tai hại cần tránh.
Thân thế và sự nghiệp của Lăn Ông đă có một ảnh hưởng rất lớn đối với giới Đông y Việt Nam cả về mặt đạo đức và chuyên môn.